Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm tuyên truyền về Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Luật Đất đai 2024

(HNTTO) – Sáng ngày 14/05/2026, tại số 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Đồng Nai (Tổ 1, Khu Văn Hải, Thị trấn Long Thành (cũ); Phòng giao dịch số 65, đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Hưng, TP.HCM – Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) giao Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) đã tổ chức buổi tham vấn pháp luật miễn phí dành cho các doanh nghiệp thành viên Câu lạc bộ Doanh nhân IMRIC – IRLIE (Viện IMRIC) và Câu lạc bộ Báo chí Truyền thông&Chính sách pháp luật (Viện IRLIE…
Tại buổi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật miễn phí lần này, các luật gia, luật sư và tư vấn viên pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm trực tiếp tuyên truyền về 02 tình huống pháp lý cụ thể như sau:
Tình huống 1: Trong thời kỳ hôn nhân, được tặng cho riêng tài sản – Chồng có được đồng sở hữu?

Thành viên CLB DN IMRIC – IRLIE nêu câu hỏi: Năm 2020, tôi được bố mẹ tặng cho riêng nhà đất. Tôi đã làm thủ tục sang tên tôi và chồng tôi biết việc này. Tuy nhiên, hiện chồng tôi cho rằng nhà đất bố mẹ cho trong thời kỳ hôn nhân nên yêu cầu tôi phải thêm tên anh vào sổ đỏ và dùng số tiền cho thuê vào việc chung của gia đình. Như vậy có đúng không?
Trước tiên, căn cứ vào khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 – đối với nhà đất mà bạn được bố mẹ tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân có quy định: Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng…
Căn cứ vào khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định:Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng…
Do đó, theo các quy định nêu trên, nhà đất mà bạn được bố mẹ tặng cho riêng là tài sản riêng của bạn. Chồng của quý doanh nhân không có quyền yêu cầu được đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trừ khi bạn đồng ý thỏa thuận đây là tài sản chung vợ chồng.
Về số tiền có được từ việc cho thuê nhà đất là tài sản riêng của bạn thì pháp luật quy định như sau: Căncứ vào khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 109 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hoa lợi, lợi tức thì Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản. Vì vậy, khoản tiền thu được từ việc bạn cho thuê nhà đất là khoản lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của bạn.
Tại khoản 2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40.
Vì lẻ đó, số tiền bạn thu được từ hoạt động cho thuê nhà, đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng.
Ngoài ra, căn cứ theo khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng”. Việc chồng bạn yêu cầu bạn sử dụng số tiền nêu trên vào công việc chung của gia đình là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật.
Tình huống thứ hai: Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2026, sắp tới sẽ có thêm nhiều trường hợp không cấp sổ đỏ

Căn cứ theo khoản 45 Điều 1 dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2026 sửa đổi bổ sung các trường hợp không cấp sổ đỏ tại Điều 151 Luật Đất đai 2024:
Đất được giao để quản lý thuộc các trường hợp tại Điều 7 của Luật này, trừ trường hợp đất được giao sử dụng chung với đất được giao để quản lý thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất sử dụng theo quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 139 của Luật Đất đai; Đất đã có thông báo thu hồi đất còn hiệu lực; Đất đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 3 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện quyết định đó; Tài sản gắn liền với đất đã có thông báo hoặc quyết định giải tỏa hoặc đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 03 năm kể từ thời điểm có các thông báo, quyết định này mà không thực hiện quyết định đó;
Do vậy, theo đề xuất trên, sắp tới, dự kiến các các trường hợp không cấp sổ đỏ: Người sử dụng đất không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp: Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích; Đất được giao để quản lý thuộc các trường hợp tại Điều 7 Luật Đất đai 2024…; Đất thuê, thuê lại của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của chủ đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng, phù hợp với dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; Đất nhận khoán; Đất đã có thông báo thu hồi đất còn hiệu lực; Đất đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 3 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện quyết định đó; Đất đang có tranh chấp, đang bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; quyền sử dụng đất đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật; Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh.
Cùng với đó, các tài sản gắn liền với đất không được cấp sổ đỏ trong trường hợp: Tài sản gắn liền với đất mà thửa đất có tài sản đó thuộc trường hợp không cấp sổ đỏ hoặc không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận; Nhà ở hoặc công trình xây dựng được xây dựng tạm thời trong thời gian xây dựng công trình chính hoặc xây dựng tạm thời bằng vật liệu tranh, tre, nứa, lá, đất; công trình phụ trợ nằm ngoài phạm vi công trình chính và để phục vụ cho việc quản lý, sử dụng, vận hành công trình chính; Tài sản gắn liền với đất đã có thông báo hoặc quyết định giải tỏa hoặc đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 03 năm kể từ thời điểm có các thông báo, quyết định này mà không thực hiện quyết định đó; Nhà ở, công trình được xây dựng sau thời điểm công bố cấm xây dựng; Tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, trừ trường hợp tài sản đã được xác định là phần vốn của Nhà nước đóng góp vào doanh nghiệp theo hướng dẫn của Bộ Tài chính…
Có thể thấy, trong quá trình hoạt động của Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) thường xuyên phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) luôn xem công tác trợ giúp pháp lý góp phần giúp người dân giảm nghèo về pháp luật, do đó, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2017 đều xác định người nghèo là nhóm đối tượng ưu tiên đầu tiên trong các nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý…
Đồng thời, truyền tải nội dung trên các trang tin điện tử, mạng xã hội, tạp chí in như: www.huongnghiepthitruong.vn (Viện IMRIC); www.chinhsachphapluat.vn (Viện IRLIE); www.tuvanphapluatvietnam.vn (Trung tâm TVPLMS); www.thamvanphapluat.vn (Trung tâm TTLCC); www.nghiencuupldautu.vn (Hiệp hội Nghiên cứu, Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam “AVRCIPL”); www.bestlife.net.vn …Đặc biệt, www.vietbao.vn.
Qua đó, các hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm về công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người yếu thế được triển khai đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc và được thực hiện thường xuyên, trong đó chú trọng các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, người yếu thế như: thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở; nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, đội ngũ người tham gia trợ giúp pháp lý…
Cùng với đó, các hoạt động trợ giúp pháp lý được Viện IMRIC; Viện IRLIE; Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm tuyên truyền về các vụ việc trợ giúp pháp lý, với mong muốn ngày càng được nâng cao, nhiều vụ việc thành công, hiệu quả như người được trợ giúp pháp lý được tuyên không có tội hoặc được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị trong cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân…Đặc biệt, trongsuốt thời gian qua trợ giúp pháp lý đã thể hiện rất tốt vai trò của mình trong việc đảm bảo việc xét xử vụ việc khách quan, đúng người, đúng tội, tránh được oan sai cho người dân cũng như đã thực hiện thành công chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho người nghèo, các đối tượng yếu thế trong xã hội. Trợ giúp pháp lý đã giúp người dân sử dụng pháp luật khi có tranh chấp, vướng mắc, giúp người dân “giảm nghèo về pháp luật”, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, người dân yên tâm lao động để giảm nghèo về kinh tế…
Trên đây là hai trường hợp điển hình, xin trích dẫn để quý doanh nhân tham khảo lan toả trong cộng đồng về công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm để quý doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, luôn luôn thượng tôn pháp luật.
TS. Hồ Minh Sơn – Viện trưởng Viện IMRIC; Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm



