Xã hội

Luật gia Hồ Minh Sơn: Yếu tố pháp lý liên quan thủ tục xoá án tích và tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự

(HNTTO) – Sáng ngày 12/09/2026, Hiệp hội Nghiên cứu Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam (AVRCIPL); Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) đã nhận được thư của người dân liên quan việc xoá án tích ra sao và tẩu tán tài sản để không còn gì, bạn có thoát được việc trả nợ?

Screenshot

Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi đã trao đổi với LG.TS. Hồ Minh Sơn – Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội AVRCIPL; Viện trưởng Viện IMRIC; Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) một cách cụ thể như sau:

Trường hợp 1: Để xóa án tích cần thực hiện thủ tục ra sao? 

Thư độc giả nêu câu hỏi: Năm 2018, con tôi phạm tội trộm cắp tài sản và bị Tòa án tuyên phạt 2 năm tù giam. Năm 2020, cháu đã chấp hành xong và đến nay không phạm tội mới. Năm 2026, cháu nộp hồ sơ xin việc tại một doanh nghiệp nước ngoài nhưng bị từ chối với lý do chưa xóa án tích. Mong, Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm hướng dẫn thực hiện thủ tục xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 173 chương XVI Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Cháu bạn đã chấp hành xong hình phạt tù từ năm 2020 và đến nay không phạm tội mới. Theo đó, con của quý vị thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích theo quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Dẫu thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích nhưng cháu bạn cần thực hiện thủ tục yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích.

Căn cứ khoản 1 Điều 369 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về thủ tục xóa án tích: “Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích, đồng thời xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích”.

Do đó, để được cấp phiếu lý lịch tư pháp không có án tích cháu bạn phải thực hiện nộp hồ sơ tới cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Tại Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp 2009 (sửa đổi, bổ sung 2025) thì cơ quan có thẩm quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp cho công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú trong nước là Công an cấp tỉnh.

Quý vị cần chuẩn bị hồ sơ yêu cầu xóa án tích, như sau: Trích lục bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án hình sự phúc thẩm (nếu vụ án được giải quyết ở cấp phúc thẩm); Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp (trong trường hợp hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ thì cung cấp Giấy xác nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo/án phạt cải tạo không giam giữ của cơ quan thi hành án hình sự thuộc công an cấp tỉnh); Biên lai nộp tiền án phí, tiền phạt, nghĩa vụ dân sự hoặc Giấy xác nhận kết quả thi hành án dân sự (bản chính).

Căn cứ Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp 2009 (sửa đổi, bổ sung 2025), Thông tư số 101/2026/TT-BCA ngày 24/6/2026 của Bộ Công an, công dân có thể thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tuyến hoặc trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Có hai yếu tố cần lưu ý sau:

Đối với hình thức trực tuyến: Công dân có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tuyến, không được nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính. Hồ sơ được thực hiện trên ứng dụng VNeID hoặc cổng dịch vụ công quốc gia.

Đối với hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính: Công dân chưa có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính. Hồ sơ nộp tại Công an cấp tỉnh/thành phố nơi người yêu cầu xóa án tích thường trú hoặc tạm trú.

Trường hợp con của quý vị không thể thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp, thì quý vị có thể ủy quyền cho người khác hoặc nhờ người thân (cha, mẹ, vợ, chồng, con, người giám hộ) thực hiện thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ hai: Có thoát việc trả nợ, vì đã tẩu tán tài sản để? 

Theo thư người dân nêu câu hỏi có nội dung tóm tắt: Tôi có quyền bán lô đất và chiếc ôtô để tránh việc các tài sản này bị kê biên hay không? Nếu bán hết trước khi đối tác khởi kiện thì tôi có còn phải chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ đã nợ trước đó hay không? Như vậy, việc bán tài sản với mục đích tránh nghĩa vụ trả nợ có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý như thế nào?

Có thể hiểu, việc đối tác chưa khởi kiện ra tòa án thì quý vị không có nghĩa là người đang nợ được quyền tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Qua đó, nếu việc bán lô đất, ôtô chỉ là giao dịch giả tạo, điển hình như chuyển nhượng cho người thân hoặc người quen nhưng không thực sự thanh toán tiền, nhằm che giấu hoặc tẩu tán tài sản để chủ nợ không thể thu hồi nợ thì giao dịch này có thể bị tòa án tuyên vô hiệu được căn cứ vào khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, vì giao dịch được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.

Tuy nhiên, xin khuyến nghị rằng – hành vi tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ không chỉ dẫn đến trách nhiệm dân sự mà còn có nguy cơ bị xem xét trách nhiệm hình sự, tùy vào thời điểm, mục đích và hành vi cụ thể.

Tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), người nhận tài sản của người khác thông qua quan hệ hợp đồng mà sau đó có hành vi chiếm đoạt theo các trường hợp luật định có thể bị truy cứu về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Với giá trị tài sản chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên, mức hình phạt có thể lên đến 20 năm tù.

Cạnh đó, việc chỉ đơn thuần kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán và bán tài sản chưa tự động cấu thành tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền cần chứng minh được các dấu hiệu chiếm đoạt theo quy định tại Điều 175 (như là có tài sản nhưng không chịu trả nợ, việc bán tài sản để tẩu tán chứ không dùng vào mục đích trả nợ…).

Mặt khác, nếu sau khi đã có bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng cố tình không chấp hành và tẩu tán tài sản để trốn tránh việc thi hành án, thì có thể bị truy cứu về tội Không chấp hành án theo Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015. Hành vi tẩu tán tài sản là tình tiết có thể làm người phạm tội bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm.

Vì vậy, việc bán đất và ôtô không làm người nợ “thoát” khỏi khoản nợ trước đó. Nếu có mục đích tẩu tán tài sản để trốn nợ, giao dịch có thể bị vô hiệu; nghiêm trọng hơn, tùy vào hành vi và thời điểm thực hiện, việc tẩu tán tài sản để tránh nghĩa vụ trả nợ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự…

CTV TVPL Bùi Văn Hải – Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm

Bài viết liên quan

Back to top button