Xã hội

Trung tâm tư vấn pháp luật Minh Sơn tuyên truyền về Luật Đất đai năm 2024 và Luật Dân sự 2015 cho người dân và CLB DN IMRIC – IRLIE

(HNTTO) – Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) phối hợp với Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) giao Trung tâm tư vấn pháp luật Minh Sơn (TTTVPLMS) đã tổ chức buổi tham vấn pháp luật miễn phí dành cho các doanh nghiệp thành viên Câu lạc bộ Doanh nhân IMRIC – IRLIE (Viện IMRIC) và Câu lạc bộ Báo chí Truyền thông&Chính sách pháp luật (Viện IRLIE) vào sáng ngày 17/02/2026, tại số 44/67, phố Cảm Hội, phường Dống Mác, quận Hai Bà Trưng (cũ), TP. Hà Nội và đầu cầu phía Nam tại số 412, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Có thể thấy, trong quá trình hoạt động của Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) thường xuyên phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) luôn xem công tác trợ giúp pháp lý góp phần giúp người dân giảm nghèo về pháp luật, do đó, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2017 đều xác định người nghèo là nhóm đối tượng ưu tiên đầu tiên trong các nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý…

Đồng thời, truyền tải nội dung trên các trang tin điện tử, mạng xã hội, tạp chí in như: www.huongnghiepthitruong.vn (Viện IMRIC); www.chinhsachphapluat.vn (Viện IRLIE); www.tuvanphapluatvietnam.vn (Trung tâm TVPLMS); www.thamvanphapluat.vn (Trung tâm TTLCC); www.nghiencuupldautu.vn  (Hiệp hội Nghiên cứu, Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam “AVRCIPL”); www.bestlife.net.vnwww.vanhoacongdong.vn (Hiệp hội Phát triển Văn hoá cộng đồng Việt Nam)…

Trung tâm tư vấn pháp luật Minh Sơn (TVTVPLMS) sẵn sàng hỗ trợ về công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người yếu thế được triển khai đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc và được thực hiện thường xuyên, trong đó chú trọng các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, người yếu thế như: thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở; nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, đội ngũ người tham gia trợ giúp pháp lý…

Cùng với đó, các hoạt động trợ giúp pháp lý được Viện IMRIC; Viện IRLIE; Trung tâm tư vấn pháp luật Minh Sơn (TTTVPLMS) tuyên truyền về các vụ việc trợ giúp pháp lý, với mong muốn ngày càng được nâng cao, nhiều vụ việc thành công, hiệu quả như người được trợ giúp pháp lý được tuyên không có tội hoặc được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị trong cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân…Đặc biệt, trongsuốt thời gian qua trợ giúp pháp lý đã thể hiện rất tốt vai trò của mình trong việc đảm bảo việc xét xử vụ việc khách quan, đúng người, đúng tội, tránh được oan sai cho người dân cũng như đã thực hiện thành công chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho người nghèo, các đối tượng yếu thế trong xã hội. Trợ giúp pháp lý đã giúp người dân sử dụng pháp luật khi có tranh chấp, vướng mắc, giúp người dân “giảm nghèo về pháp luật”, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, người dân yên tâm lao động để giảm nghèo về kinh tế…

Tại buổi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật miễn phí lần này, các luật gia, luật sư, tư vấn viên, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật Minh Sơn (TTTVPLMS) đã tham vấn về hai trường hợp cụ thể như sau:

Tình huống 1: Đất sử dụng sai mục đích có làm được thủ tục tặng cho? 

Một thành viên CLB DN IMRIC – IRLIE nêu trường hợp của gia đình: Năm 1997, UBND thành phố cấp Giấy chứng nhận, loại đất CLN (đất trồng cây lâu năm). Năm 2010, bà xây nhà trên đất. Nay bà Tuyền tặng cho con Giấy chứng nhận nêu trên, bà được cơ quan thông báo sử dụng đất sai mục đích và không phù hợp quy hoạch. Theo đó, nêu thắc mắc trường hợp của mình sau khi có quyết định xử phạt thì bà có quyền tặng cho con Giấy chứng nhận nêu trên không? Giấy chứng nhận cho con sẽ được cấp loại đất gì?

Xin trích dẫn về nguyên tắc như sau: Tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2924 – Thửa đất quýdoanh nhân phản ánh do đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp năm 1997), loại đất là đất trồng cây lâu năm; năm 2010 đã xây dựng nhà ở trên một phần thửa đất nêu trên; trường hợp này thuộc “sử dụng đất không đúng mục đích đã được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất”.

Tại Điều 25 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích được giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất (tức là đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) trước ngày 1/7/2014 (Điều 25 này quy định chi tiết khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024), trong đó, tại điểm b khoản 6 Điều 25 quy định “Trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận thì thực hiện việc đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 29 và Điều 37 của Nghị định này”.

Tại Điều 29 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP có quy định hồ sơ nộp khi đăng ký biến động đất đai, trong đó tại khoản 3 Điều 29 quy định “Một trong các loại giấy tờ liên quan đến nội dung biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất đối với từng trường hợp cụ thể theo quy định tại Điều 30 của Nghị định này”.

Căn cứ vào khoản 21 Điều 30 quy định “Trường hợp quy định tại điểm b khoản 6 Điều 25 của Nghị định này thì nộp Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, trong đó có thể hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc đăng ký đất đai; chứng từ nộp phạt của người sử dụng đất”.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 22 Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT – Trường hợp đăng ký biến động đất đai cho trường hợp bà hỏi phải căn cứ vào quy hoạch để xem xét việc cấp Giấy chứng nhận; sau khi xem xét mà không đủ điều kiện hoặc không được cấp Giấy chứng nhận thì chỉnh lý, cập nhật hồ sơ địa chính kết quả đăng ký đất đai và Thông báo xác nhận kết quả đăng ký đất đai cho người sử dụng đất; loại đất sau đăng ký vẫn là loại đất đã cấp Giấy chứng nhận trước đó.

Căn cứ vào các khoản 1, 3, 5 và 8 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024 – Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực hiện; nếu trường hợp bà hỏi đáp ứng điều kiện theo quy định nêu trên thì được thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định.

Tình huống 2: Đào móng làm nhà phát hiện vàng được chôn dưới đất, vàng thuộc về ai?

Thành viên CLB DN IMRIC – IRLIE nêu câu hỏi: Khi đào móng xây nhà thì phát hiện vàng được chôn dưới đất. Như vậy, vàng thuộc về ai, tôi hay nhà nước?

Qua tham chiếu Bộ luật Dân sự 2015, việc xác định quyền sở hữu đối với vàng được phát hiện khi đào móng làm nhà phải căn cứ vào chế độ pháp lý của vật chôn giấu và tính chất của tài sản được tìm thấy.

Tại Điều 229 BLDS 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với vật chôn giấu, bị vùi lấp. Người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho UBND cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của phápluật.

Do đó, người phát hiện có nghĩa vụ giao nộp tài sản cho UBND cấp xã nơi gần nhất; sau khi trừ chi phí hợp lý cho việc bảo quản, người phát hiện được hưởng một phần giá trị của tài sản, phần còn lại thuộc sở hữu Nhà nước…

Xin phân tích thêm:

Đầu tiên, vàng được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử – văn hóa theo quy định của Luật Di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (hiện nay mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng) thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.

Về nguyên tắc: quyền sử dụng đất không đồng nhất với quyền sở hữu đối với tài sản chôn giấu trong đất. Do vậy, trong trường hợp vàng được phát hiện là vàng thông thường, không phải di vật, cổ vật, thì người phát hiện không đương nhiên có quyền sở hữu toàn bộ số vàng, mà chỉ được hưởng một phần giá trị theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Nhà nước xác lập quyền sở hữu đối với phần giá trị còn lại…

Kế đến, căn cứ vào khoản 2 Điều 229 BLDS 2015 – nếu số vàng được phát hiện là di vật, cổ vật hoặc bảo vật quốc gia, theo đó toàn bộ tài sản này thuộc sở hữu Nhà nước. Quy định này, phù hợp với Luật Di sản văn hóa 2024, người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

Về yếu tố pháp lý, vàng được chôn dưới đất khi đào móng làm nhà không mặc nhiên thuộc về chủ nhà. Tùy thuộc vào việc vàng có phải là cổ vật hay không, quyền sở hữu sẽ được xác lập một phần cho người phát hiện và phần còn lại cho Nhà nước, hoặc toàn bộ thuộc về Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trên đây là hai trường hợp được các luật gia, luật sư, các tư vấn viên pháp luật đã tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, rất mong quý doanh nghiệp và người dân tham khảo…Chúng tôi sẵn sàng tham vấn pháp lý miễn phí nhằm lan toả, nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật trong doanh nghiệp và người dân ngày càng được nhân rộng. Đồng thời, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tuân thủ, chấp hành, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng lối sống và làm việc theo pháp luật trong toàn xã hội; đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền được thông tin về pháp luật của công dân…

CTV TVPL Trần Ngọc Danh – Trung tâm tư vấn pháp luật Minh Sơn

Bài viết liên quan

Back to top button