Nghiên cứu trao đổi

TS. Hồ Minh Sơn – Phó Chủ tịch Hiệp hội AVRCIPL, Viện trưởng Viện IMRIC phân tích tình huống tác động tới lãi suất cho vay?

(HNTTO) – Có thể hiểu, cho vay là một hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay.Theo đó, cấp tín dụng được hiểu là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Ảnh minh hoạ

Trong bối cảnh kinh tế phục hồi, tín dụng tăng mạnh và cạnh tranh huy động vốn ngày càng gay gắt, các ngân hàng có lãi suất cho vay bình quân chênh nhau. Chuyên gia dự báo, lãi suất cho vay có xu hướng tăng nhẹ cuối năm 2025…

Theo tìm hiểu của Hiệp hội Nghiên cứu, Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam (AVRCIPL); Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) và Tạp chí Doanh nghiệp và Trang trại Việt Nam từ Ngân hàng Nhà nước về số liệu diễn biến lãi suất của các tổ chức tín dụng trong tháng 7. Theo đó, mặt bằng lãi suất trên thị trường nhìn chung ổn định, thể hiện xu hướng rõ rệt ở cả tiền gửi và cho vay.

Trong đó, đối với việc huy động, lãi suất tiền gửi bằng VNĐ tại các ngân hàng thương mại phổ biến ở mức 0,1 – 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,3 – 4,0%/năm với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 4,6 – 5,5%/năm cho kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng. Các khoản gửi từ trên 12 tháng đến 24 tháng, lãi suất ở mức 4,9 – 6,1%/năm; kỳ hạn trên 24 tháng dao động 6,9 – 7,3%/năm.

Tuy lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng ở hầu hết các ngân hàng vẫn duy trì dưới 6%/năm, nhưng mức tăng nhẹ của lãi suất huy động trong thời gian gần đây sẽ có tác động lan tỏa đến lãi suất cho vay. Tất cả ngân hàng thương mại đã công bố lãi suất cho vay bình quân trong tháng 7, trong đó một số ngân hàng tăng lãi suất cho vay so với tháng 6, mức tăng cao nhất lên đến 0,42%/năm.

Cùng với đó, nhóm các ngân hàng tăng lãi suất cho vay bình quân trong tháng 7 so với tháng 6, cụ thể: PGBank (tăng 0,42%/năm) lên mức 7,52%/năm, Sacombank (tăng 0,32%/năm) lên 7,25%/năm, BVBank (tăng 0,18%/năm) lên 8,82%/năm, OCB (tăng 0,14%/năm) lên 7,86%/năm, MB (tăng 0,02%/năm) lên 6,95%/năm, SCB (tăng 0,01%/năm) lên. 5,4%/năm.

Thế nhưng, có nhóm 4 ngân hàng quốc doanh, lãi suất cho vay bình quân tiếp tục giảm nhẹ và niêm yết ở mức thấp nhất hệ thống. Điển hình, Vietcombank là 5,6%/năm, giảm 0,34%/năm so với tháng 6; BIDV là 5,49%/năm, giảm nhẹ 0,01%/năm; Agribank là 6,5%/năm, giảm nhẹ 0,01%/năm; VietinBank là 5,22%/năm.

Cạnh đó, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ có lãi suất cho vay bình quân khá cao, trên 8%/năm, gồm: Saigonbank (8,9%/năm), Bac A Bank (8,61%), BVBank (8,57%/năm), Viet A Bank (8,52%), PVCombank (8,29%/năm) và KienlongBank (8,17%/năm).

Dự báo về vấn đề này, TS. Hồ Minh Sơn – Phó Chủ tịch Hiệp hội (AVRCIPL); Viện trưởng Viện IMRIC cho hay, đến quý IV năm 2025, lãi suất huy động có thể tăng nhẹ khi tăng trưởng tín dụng thường có xu hướng tăng mạnh về cuối năm bởi đây là mùa kinh doanh cao điểm trong năm. Có thể, dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 4,7%/năm. Ngoài yếu tố nội sinh từ hoạt động huy động, áp lực tỷ giá vẫn rất lớn và nguy cơ lạm phát tăng cũng tác động đến lãi suất cho vay tăng.

TS. Hồ Minh Sơn chia sẻ dự báo ước tính tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn khoảng 1,3 – 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn. Do đó, điều này đã phần nào gây áp lực tăng lên lãi suất huy động ở nhóm ngân hàng thương mại tư nhân nhằm thu hút tiền gửi…Tại khoản 7 Điều 4 Luật Các tổ cức tín dụng 2024, như sau: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức kinh tế không có tư cách pháp nhân và là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam…;Chiết khấu là hình thức cấp tín dụng thông qua việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của bên thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán; Cho vay là hình thức cấp tín dụngthông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay…

Theo TS. Hồ Minh Sơn, từ nay đến cuối năm 2025, lãi suất huy động có xu hướng tiếp tục đi lên nhằm thu hút thêm nguồn vốn từ người dân. Do đó, lãi suất cho vay có khả năng tăng. Mặt khác, khi tỷ giá tăng, các ngân hàng buộc phải cân nhắc để không làm giảm sức cạnh tranh của tín dụng. Từ đây, việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở thành công cụ cân bằng giữa áp lực từ thị trường tiền tệ và mục tiêu duy trì tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, lãi suất cho vay tăng nhưng sẽ khó tăng cao khi chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng nỗ lực giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay.

Căn cứ Điều 102 Luật Các tổ chức tín dụng 2024: Tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu, dữ liệu chứng minh khả năng tài chính của khách hàng, phương án sử dụng vốn khả thi, mục đích sử dụng vốn hợp pháp trước khi quyết định cấp tín dụng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 102. Tổ chức tín dụng phải có tối thiểu thông tin về mục đích sử dụng vốn hợp pháp, khả năng tài chính của khách hàng trước khi quyết định cấp tín dụng đối với các khoản cấp tín dụng có mức giá trị nhỏ sau đây: Khoản cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, khoản cấp tín dụng qua thẻ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Khoản cho thuê tài chính, khoản cho vay tiêu dùng, khoản cấp tín dụng qua thẻ của tổ chức tín dụng phi ngân hàng; Khoản cho vay phục vụ nhu cầu đời sống của quỹ tín dụng nhân dân; Khoản cho vay của tổ chức tài chính vi mô.

TS. Hồ Minh Sơn phân tích một số nguyên nhân và rủi ro tín dụng từ yếu tố khách quan và chủ quan:

Yếu tố khách quan:

Môi trường kinh tế: Sự tăng trưởng kinh tế, lạm phát, việc làm, thu nhập,… là một trong những yếu tố dẫn đến rủi ro tín dụng ngân hàng. Đặc biệt là trong năm nay, khi vấn đề lạm phát đang gây khó khăn cho nhiều quốc gia, khi giá trị đồng tiền ngày càng tụt dốc, người dân phải trả nhiều tiền hơn khi mua bất kì một món đồ nào đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng xảy ra rủi ro tín dụng.

Môi trường pháp lí: Vấn đề này nằm ở các văn bản pháp lí khi chúng cần sự đồng bộ và rõ ràng, đầy đủ thông tin và có hiệu lực. Hiệu quả của các văn bản này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng cũng như hoạt động của khách hàng trong quá trình vay vốn.

Sự phát triển các ngành liên quan: Biến động thị trường của các ngành khác cũng gây ra những tác động không nhỏ với rủi ro tín dụng. Đặc biệt là các ngành liên quan đến bất động sản vì đây vừa là đối tượng cho vay vừa là đối tượng đảm bảo cho các khoản vay ngân hàng.

Yếu tố chủ quan

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Việc doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả hay không ảnh hưởng rất nhiều tới việc thanh toán các khoản vay đối với ngân hàng. Nếu như doanh nghiệp hoạt động không mấy hiệu quả và đang tụt dốc thì nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng ngân hàng sẽ rất cao.

Lịch sử nợ của doanh nghiệp: Lịch sử nợ quá nhiều, chồng chất các khoản nợ chưa trả hết cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng. Các doanh nghiệp này thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh và phát triển các dịch vụ, sản phẩm của mình.

Khả năng tài chính: Khả năng tài chính tốt sẽ đảm bảo chắc chắn hơn việc thanh toán các khoản nợ cho phía ngân hàng và ngược lại. Khả năng tài chính của các doanh nghiệp thường được các ngân hàng đánh giá ngay từ đầu để đưa ra mức cho vay phù hợp nhưng đôi khi sẽ có những biến cố mong muốn khiến doanh nghiệp đó mất toàn bộ khả năng chi trả khoản vay của mình.

Tính thanh khoản: Đây là một thuật ngữ khá xa lạ với nhiều người, dùng để chỉ mức độ linh hoạt của tài sản khi thực hiện một giao dịch nào đó. Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến tính thanh khoản là chi phí và thời gian, từ đó rủi ro có thể được tính đến là việc nhà đầu tư mất nhiều thời gian và chi phí để thu hồi vốn, chính vào lúc đó rủi ro tín dụng có nguy cơ cao sẽ phát sinh.

Thông qua bài viết, mong rằng các hội viên Hiệp hội, thành viên Viện tham khảo thêm về những nguyên nhân giúp để quản trị rủi ro tốt hơn trong việc thanh khoản cũng như tiêu dùng…

CTV TVPL Bùi Văn Hải – Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm/Tạp chí Doanh nghiệp và Trang trại Việt Nam

 

Bài viết liên quan

Back to top button