Xã hội

Bước ngoặt lịch sử, bản lĩnh của Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập

Kể từ ngày 3/2/1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến nay, dân tộc Viêt Nam đã trải qua nhiều kỷ nguyên vẻ vang, với những dấu mốc mang tính bước ngoặt. Mỗi kỷ nguyên đều ghi dấu những thành tựu to lớn và tích lũy những bài học sâu sắc, tạo nền tảng vững chắc cho các giai đoạn phát triển tiếp theo của dân tộc. Có thể khẳng định – 81 năm nhìn lại, mỗi bước tiến của đất nước đều gắn với khả năng nhận diện thời thế và chủ động thay đổi.

Năm 2026, đánh dấu 81 năm thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – mốc son mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam, góp phần thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên toàn cầu. Việt Nam từ một nước thuộc địa – nay đã vượt qua chiến tranh, cấm vận và khủng hoảng, vươn lên khẳng định vị thế trong tiến trình Đổi mới và hội nhập.

Theo đó, xuyên suốt hành trình – bảnh lĩnh dân tộc, sự kết tinh truyền thống văn hoá, Tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng, luôn luôn là nguồn lực nội sinh cốt lõi, giúp đất nước vượt khó – phát triển và hội nhập có trách nhiệm… Đồng thời, trước những biến động sâu sắc của thế giới hiện nay, việc nhận diện, phát huy bản lĩnh dân tộc có ý nghĩa lý luận – thực tiễn cấp thiết, góp phần định hướng chiến lược phát triển bền vững.

Lịch sử hiện đại Việt Nam gắn liền với những biến động lớn của thế giới. Trong từng hoàn cảnh, Việt Nam luôn phải tìm lời giải cho một bài toán không dễ: làm thế nào để nắm bắt được xu thế của thời đại, tận dụng được những điều kiện thuận lợi, nhưng vẫn giữ vững quyền chủ động và những lợi ích căn bản của quốc gia – dân tộc.

Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến nay, dân tộc Viêt Nam đã trải qua nhiều kỷ nguyên vẻ vang với những dấu mốc mang tính bước ngoặt (Ảnh minh họa).

Nhìn lại chặng đường 81 năm, có thể thấy cách thức xuyên suốt trong cách Việt Nam ứng xử trước thời cuộc: không đứng ngoài dòng chảy của thời đại, nhưng cũng không để dòng chảy ấy quyết định thay con đường của mình. Khi một xu thế khách quan mở ra cơ hội, Việt Nam chủ động thích ứng và tranh thủ. Nhưng khi hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi, Việt Nam kiên định với mục tiêu chiến lược, đồng thời tìm kiếm những phương thức phù hợp để vượt qua. Khi phương thức phát triển không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Việt Nam lựa chọn đổi mới.

Đây còn là sự kết hợp giữa nhận diện thời thế, linh hoạt về phương thức và kiên định về mục tiêu. Trong một thế giới biến động ngày càng nhanh, đây không chỉ là bài học của lịch sử mà còn là một yêu cầu đối với Việt Nam trên con đường phát triển hôm nay.

Có thể thấy, khi chúng ta đang sống trong những thời khắc lịch sử thực sự, một giai đoạn mà các quy tắc, trật tự tưởng như bền vững suốt nhiều thập kỷ đang bị lung lay. Trong đó, cũng có những cơn dư chấn từ các quyết sách thương mại và tiền tệ của một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, nhất là cuộc đối đầu ngày càng gay gắt với Trung Quốc, đang đẩy thế giới vào một kỷ nguyên đầy biến động và bất định.

Qua đó, kỷ nguyên của chủ nghĩa tự do kinh tế, với niềm tin vào các quy tắc đa phương công bằng, đang dần khép lại, nhường chỗ cho một thực tại nghiệt ngã hơn kỷ nguyên của địa kinh tế chiến lược, nơi sức mạnh và lợi ích quốc gia vị kỷ được đặt lên hàng đầu, định hình lại mọi dòng chảy kinh tế.

Điển hình, sự chuyển dịch chính sách của Hoa Kỳ không phải là hành động bột phát, mà phản ánh một sự tái định vị chiến lược. Đây là sự xuất phát từ nhận thức về vị thế siêu cường bị thách thức cùng với sự phản kháng chính trị trong lòng nước Mỹ trước những mặt trái của toàn cầu hóa. Chính sách thuế quan quyết liệt, việc từ bỏ nguyên tắc WTO và công khai gây áp lực lên chính sách tiền tệ của đối tác là những biểu hiện rõ ràng của việc logic quyền lực lấn át các chuẩn mực đa phương. Mô hình toàn cầu hóa cũ, dù mang lại tăng trưởng, đã không còn được Washington tin tưởng và đang đối mặt với khủng hoảng niềm tin, dẫn đến sự phân mảnh và chính trị hóa các mối liên kết kinh tế.

Đặc biệt, Việt Nam – một quốc gia tầm trung với độ mở lớn và vị trí địa chiến lược quan trọng, xưa nay vốn có bản lĩnh vững vàng và chiến lược ứng phó tổng thể, đa chiều. Ưu tiên hàng đầu là xây dựng “pháo đài kinh tế” bền vững và tự cường. Nền tảng cốt lõi là sức mạnh nội tại, tập trung vào chất lượng tăng trưởng và khả năng chống chịu. Từ đó, đòi hỏi đột phá về thể chế một cách thực chất, khơi thông các động lực tăng trưởng nội sinh; nâng cấp năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Song song với đó là phát triển hệ thống tài chính lành mạnh, đủ sức hấp thụ các cú sốc bên ngoài.

Cùng với đó, Việt Nam sẽ tiếp tục đa dạng hóa thực chất thị trường và đối tác, khai thác sâu các FTA thế hệ mới và thu hút FDI có chọn lọc, xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, bền vững, tránh phụ thuộc quá mức hay rủi ro gian lận xuất xứ. Mặt khác, tiếp tục phát huy ngoại giao “cây tre” chủ động, sáng tạo. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ sẽ tiếp tục được vận dụng bản lĩnh, linh hoạt, giữ vững cân bằng chiến lược với các nước lớn…

Mỗi bước ngoặt lịch sử đều đặt ra câu hỏi: thời thế đang thay đổi và dân tộc có thể làm gì trước sự thay đổi ấy? 

Việt Nam – câu hỏi này đặc biệt có ý nghĩa vào mùa Thu năm 1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị đánh bại và phong trào giải phóng dân tộc dâng cao trên phạm vi toàn cầu… Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho thấy một dân tộc có thể nắm bắt một bước ngoặt của thời đại để mở ra một trang mới trong lịch sử của mình.

Ở những thập niên tiếp theo, Việt Nam tiếp tục phải hoạt động trong một môi trường quốc tế phức tạp, nơi tình hình trong nước đan xen với những biến động của khu vực và quan hệ giữa các nước lớn. Điều này, đòi hỏi không chỉ ý chí mà cả khả năng đánh giá tình hình một cách tỉnh táo. Phải nhìn thấy xu hướng dài hạn nhưng không bỏ qua những biến động trước mắt; phải nhận diện sức ép nhưng không coi sức ép là giới hạn cuối cùng; phải biết tranh thủ những điều kiện thuận lợi nhưng không để mình rơi vào thế bị động. Việt Nam đã hành động với quyết tâm cao, kiên trì theo đuổi mục tiêu đến cùng khi thời cơ xuất hiện. Bởi, trước những bước ngoặt của lịch sử, bỏ lỡ thời cơ không chỉ là phụ lòng những thế hệ đã đặt nền móng cho dân tộc, mà còn là món nợ đối với các thế hệ mai sau.

Vì lẻ đó, công nghệ, thương mại, năng lượng, dữ liệu, biến đổi khí hậu, chuyển dịch chuỗi cung ứng và những thay đổi nhanh chóng của kinh tế thế giới đang cùng nhau định hình môi trường phát triển mới. Một công nghệ có thể làm thay đổi cả một ngành kinh tế. Một biến động địa chính trị có thể tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Một thay đổi trong chính sách thương mại của một nền kinh tế lớn có thể tạo ra tác động vượt xa biên giới quốc gia.

Cạnh đó, năng lực nhận diện thời thế trở thành một phần quan trọng của năng lực quốc gia. Nhìn không đúng sẽ bỏ lỡ cơ hội; nhìn đúng nhưng hành động chậm sẽ mất lợi thế; còn nhìn sai có thể dẫn đến những lựa chọn tốn kém. Vì vậy, chủ động nắm bắt sự thay đổi và chuẩn bị từ sớm chính là một hình thức của sức mạnh. Thế giới đang biến động và Việt Nam càng cần quyết liệt trong tư duy hành động.

Như vậy, việc nhận diện thời thế nhưng không có nghĩa là chạy theo thời thế. Có thể đây cũng là điểm cần được nhìn nhận rõ khi đánh giá cách Việt Nam ứng xử trước những bước ngoặt của lịch sử. Một xu thế quốc tế có thể rất mạnh, nhưng không phải mọi xu thế đều có ý nghĩa như nhau đối với mọi quốc gia. Xu thế tạo ra môi trường, cơ hội và sức ép; còn lựa chọn cách ứng xử thế nào vẫn phải xuất phát từ lợi ích và mục tiêu chiến lược của mỗi quốc gia.

Qua tìm hiểu, theo dõi – ở những năm 70 của thế kỉ 20, thế giới xuất hiện xu thế hòa hoãn Đông – Tây, quan hệ giữa các nước lớn có những điều chỉnh quan trọng, đối thoại và kiểm soát căng thẳng được đề cao hơn. Trong khi đó, Việt Nam không vì sự thay đổi trong quan hệ giữa các nước lớn mà từ bỏ mục tiêu chiến lược của mình. Theo đó, Việt Nam vừa theo dõi, tận dụng những chuyển động của tình hình quốc tế, vừa tiến hành đấu tranh ngoại giao và các hoạt động trên những mặt trận khác để thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước.

TS. Hồ Minh Sơn – Phó Chủ tịch, TTK Hiệp hội Nghiên cứu Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam (AVRCIPL); Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC)

Đặc biệt, không phải Việt Nam “đi ngược xu thế”. Vấn đề là Việt Nam không đồng nhất xu thế của quan hệ quốc tế với mục tiêu chiến lược của dân tộc. Xu thế có thể làm thay đổi môi trường hành động và buộc phải điều chỉnh phương thức, nhưng không nhất thiết làm thay đổi mục tiêu. Nếu tuyệt đối hóa xu thế, quốc gia rất dễ rơi vào thế bị động, coi những chuyển động bên ngoài là những điều mình buộc phải chấp nhận. Nhưng nếu phủ nhận xu thế, quốc gia lại có thể tự tách mình khỏi những cơ hội mà thời đại mở ra. Cả hai cách tiếp cận đều không phù hợp.

Cần thiết là thuận theo khách quan nhưng chủ động lựa chọn cách ứng xử

Đây chính là tinh thần linh hoạt có nguyên tắc. Nguyên tắc giúp xác định điều gì cần kiên định; linh hoạt giúp lựa chọn phương thức phù hợp với từng hoàn cảnh theo cách “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Kiên định không đồng nghĩa với bất biến về cách làm. Ngược lại, càng kiên định với mục tiêu, càng phải sẵn sàng thay đổi những gì không còn phù hợp.

Như vậy, công cuộc đổi mới kể từ năm 1986 đến nay là một minh chứng rõ ràng. Khi thực tiễn trong nước đặt ra yêu cầu phải đổi mới, trong khi thế giới cũng đang chuyển động mạnh về kinh tế, khoa học – công nghệ và quan hệ quốc tế, Việt Nam đã lựa chọn thay đổi tư duy và phương thức phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và từng bước hội nhập sâu hơn với khu vực, thế giới.

Điều này, không phải là thay đổi mục tiêu phát triển đất nước, mà là thay đổi cách thức để thực hiện mục tiêu ấy hiệu quả hơn. Những thành quả của bốn thập niên đổi mới cho thấy lựa chọn đó đã mở ra một không gian phát triển rộng lớn hơn.

Theo tìm hiểu từ Ngân hàng Thế giới, từ khi tiến hành đổi mới năm 1986 – Việt Nam đã chuyển từ một trong những nền kinh tế nghèo nhất thế giới thành nền kinh tế thu nhập trung bình năng động trong một thế hệ. Bài học ở đây rất rõ: kiên định mục tiêu không loại trừ thay đổi; thay đổi đúng lúc chính là một cách để bảo vệ và thực hiện mục tiêu lâu dài…

Hiện nay, Việt Nam đứng trước một yêu cầu cao hơn: không chỉ bắt kịp mà phải từng bước vươn lên, đóng góp vào sự phát triển chung của thời đại. Thế nhưng, khi thế giới đang chuyển động nhanh với những bước tiến mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và những thay đổi sâu sắc trong cấu trúc kinh tế, thương mại toàn cầu. Những xu thế ấy vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra sức ép phải thay đổi…

Việt Nam không thể đứng ngoài, mặc dù vậy cũng không thể chỉ tiếp nhận và thích ứng. Điều quan trọng là phải biến những thành tựu của thời đại thành năng lực của chính mình, từ làm chủ công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến nâng vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Với bước chuyển từ theo kịp sang vươn lên, từ thích ứng sang chủ động đóng góp. Tự chủ vì thế không phải là khép kín, mà là có đủ năng lực để lựa chọn, đủ sức chống chịu trước biến động và đủ khả năng tạo ra những giá trị mới. Khi một Việt Nam mạnh hơn không chỉ để phát triển cho mình, mà còn để đóng góp nhiều hơn cho khu vực và thế giới.

Trải qua 81 năm – mỗi bước tiến của đất nước đều gắn với khả năng nhận diện thời thế và chủ động thay đổi. Năm 1945, biết nắm bắt thời cơ để giành độc lập; trong chiến tranh, biết tận dụng những chuyển động của thế giới nhưng kiên định mục tiêu chiến lược; từ Đổi Mới, chủ động thay đổi phương thức phát triển để hội nhập.

Hôm nay, trước những biến chuyển sâu sắc của thời đại – Việt Nam không thể chỉ đặt mục tiêu theo kịp, đã đến lúc phải thay đổi để vươn lên, vươn lên để đóng góp và đóng góp để khẳng định vị thế của mình trong thế giới. Vì sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng những gì quốc gia ấy tạo dựng cho chính mình, mà còn bằng những giá trị mà quốc gia ấy có thể mang đến cho cộng đồng quốc tế. Một Việt Nam mạnh không chỉ là một Việt Nam giàu hơn, hiện đại hơn, có vị thế cao hơn, mà còn phải là một Việt Nam có khả năng góp phần giải quyết những vấn đề chung, tạo ra những giá trị chung và đóng góp vào hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới. Đây còn là chiều sâu của khát vọng vươn mình: không chỉ thay đổi vị thế của Việt Nam trong thời đại, mà từng bước nâng tầm những đóng góp của Việt Nam đối với thời đại.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, đó là “kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng… đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, cho hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu”.

Từ nắm bắt thời thế để phát triển đến chủ động thay đổi để đóng góp, đó chính là bước chuyển cần thiết để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trải qua hơn bốn thập kỷ đổi mới và hội nhập sâu rộng, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia.

Việc xác định từ năm 2026 trở đi là kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI đã thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng. Trước bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra cả thời cơ và thách thức đan xen. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xu thế chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra không gian phát triển mới cho quốc gia khi biết tận dụng lợi thế đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Song song đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và yêu cầu bảo đảm an ninh phi truyền thống cũng đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, củng cố nội lực và thích ứng linh hoạt với biến động của thế giới.

Trong kỷ nguyên này, Đảng ta xác định trọng tâm phát triển là đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.

Với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, kiến tạo phát triển và phục vụ Nhân dân được coi là điều kiện nền tảng để hiện thực hóa các mục tiêu dài hạn. Khi đi đôi với phát triển kinh tế, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người toàn diện, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ngoài ra, các mục tiêu phát triển không chỉ hướng tới tăng trưởng về quy mô mà còn phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân và phát triển bền vững. Trong đó, giai đoạn 2026-2030 được xác định là thời kỳ khởi đầu nhằm tạo nền tảng cho chặng đường dài phía trước. Với những định hướng lớn được đặt ra trong kỷ nguyên này không chỉ kế thừa thành tựu của ba kỷ nguyên trước mà còn thể hiện yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hơn về tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo và năng lực tổ chức thực tiễn. Từ nền tảng lịch sử gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng tiếp tục dẫn dắt con đường phát triển của đất nước trong bối cảnh mới, hướng tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

TS. Hồ Minh Sơn – Phó Chủ tịch, TTK Hiệp hội Nghiên cứu Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam; Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế.

Bài viết liên quan

Back to top button